Đăng Nhập 
Logo Sở Nông nghiệp & PTNT Đóng
Sàn giao dịch Nông sản Đóng

Tổng số lượt truy cập Đóng
Khoai lang Bình Tân Đóng

Tình hình sản xuất Đóng
Tham luận  
13/05/2011 9:33:03 SA
Sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ở Vĩnh Long thực trạng và giải pháp

Theo số liệu thống kê được, trong năm 2010 diện tích gieo trồng màu cả năm là 34.607 ha với sản lượng trên 600.000 tấn, trong đó có khoảng 14.000 ha luân canh trên đất lúa, còn lại là diện tích màu chuyên canh và xen canh.

Ước tính mỗi năm, cả tỉnh có thể trồng được khoảng 8.000-10.000 ha rau xanh các loại như: hành, hẹ, cải bắp, cải củ, khổ qua, dưa leo, dưa hấu, cà chua, đậu bắp, bầu, bí, đậu các loại và rau cải ăn lá các loại v.v…Những năm qua, chương trình rau an toàn (RAT) đã được ngành nông nghiệp và PTNT tỉnh triển khai thực hiện trên địa bàn Long Hồ, Tam Bình, Bình Minh, Bình Tân và TP. Vĩnh Long và đã đạt được kết quả đáng kể. Tuy nhiên, vấn đề xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ cho RAT vẫn còn là vấn đề nan giải đối với ngành quản lý, người sản xuất và các HTX.

 

RAT không có thương hiệu, chỉ tiêu thụ nội địa

 

Toàn tỉnh Vĩnh Long hiện có 6 HTX và 2 công ty TNHH đăng ký sản xuất và tiêu thụ RAT, trong đó có 3 HTX và 1 công ty đã được sở Nông nghiệp và PTNT cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất và tiêu thụ RAT. Ngoài ra, còn một số hộ, tổ sản xuất rau mầm, nấm bào ngư cũng được sở cấp chứng nhận loại này. Ước tính, diện tích sản xuất RAT chiếm khoảng 10% diện tích sản xuất rau màu trên địa bàn tỉnh (khoảng 2.000 ha), sản phẩm RAT được thị trường chấp nhận, diện tích RAT ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên, theo đánh giá thì sản phẩm RAT trong tỉnh chỉ đạt tiêu chuẩn và chỉ tiêu tiêu thụ nội địa (chủ yếu là các chợ, các nhà hàng, bếp ăn tập thể, các siêu thị trong tỉnh và các tỉnh lân cận), chưa thể xuất khẩu trực tiếp theo đơn đặt hàng của nước ngoài. Việc tiêu thụ RAT vẫn còn nhiều khó khăn, bởi các HTX chưa chủ động trong xúc tiến thương mại, đăng ký thương hiệu, mẫu mã bao bì nhất định và thiếu kinh nghiệm quản lý, điều hành, giao dịch và tiếp cận thị trường, chưa xâm nhập được các thị trường rộng lớn như: các siêu thị và các doanh nghiệp chế biến thực phẩm. Những HTX này chỉ có thể ký kết hợp đồng sản xuất, tiêu thụ RAT qua trung gian một công ty nào đó đã có đăng ký thương hiệu mới có thể xuất khẩu được. Vì vậy, giá bán rau màu của các HTX này còn rất thấp và thực tế là giá thành sản xuất và giá bán sản phẩm RAT không cao hơn so với rau thường là bao. Do đó, khi doanh nghiệp đến liên hệ đặt vấn đề tiêu thụ RAT đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thì hầu hết các HTX sản xuất trong tỉnh không đáp ứng được. Vì vậy, thị trường tiêu thụ RAT của các HTX chỉ quanh quẩn trong khu vực và càng khó hơn cho những HTX hướng đến sản xuất theo tiêu chuẩn và được cấp giấy chứng nhận theo tiêu chuẩn Việt GAP hay GlobalGAP.

 

Hiện nay, khâu sơ chế đóng gói sản phẩm RAT là vấn đề nan giải đối với người trồng rau và ban chủ nhiệm các HTX, bởi vì họ không có khả năng về vốn để đầu tư cho khâu xử lý sau thu hoạch trước khi đưa ra thị trường. Nếu mỗi hộ trồng rau tự lực mua sắm trang thiết bị sơ chế đóng gói thì không thể được vì vốn đấu tư quá cao, chi phí dây chuyền sản xuất khoảng vài chục triệu đồng. Trong khi vốn góp cỗ phần của xã viên quá ít và qui định của HTX là xã viên góp vốn cao nhất cũng không quá 30% vốn cỗ phần của HTX. Chính những qui định và sự ràng buộc này đã làm giới hạn hoạt động của hợp tác xã, nhất là hoạt động dịch vụ. Người có vốn muốn góp nhiều cũng không được, còn HTX muốn đẩy mạnh hoạt động thu mua và sơ chế đóng gói cũng không xong. Đối tác thu mua thì hầu như không có đầu tư gì cho các HTX trong khâu sơ chế đóng gói. Họ chỉ đặt hàng thu mua sản phẩm của các HTX và đem về sơ chế đóng gói bằng nhãn mác riêng của mình. Như vậy, sản phẩm rau an toàn của các HTX một lần nữa mất đi phần nào giá trị đầu ra sản phẩm chỉ vì thiếu khâu xử lý sau thu hoạch.

 

Hướng đi mới của các HTX rau an toàn ở Vĩnh Long

Phong trào sản xuất RAT ở Vĩnh Long cũng đang phát triển mạnh theo chiều hướng mới. Tại HTX RAT Thành Lợi, huyện Bình Minh có 60 ha đất đang được sản xuất các loại rau, màu, đậu đỗ theo phương pháp an toàn. HTX đã ký được hợp đồng với vài doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh khác theo phương thức doanh nghiệp đầu tư giống, hướng dẫn kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm. Hiện HTX đang cung cấp 2 loại sản phẩm chính là đậu bắp và cà tím theo giá thỏa thuận và hợp đồng sản xuất theo thời vụ. Hàng ngày, Công ty thu mua từ 1,5 đến 2 tấn sản phẩm mỗi loại tại HTX. Nguồn hàng RAT được tiêu thụ ở đây tuy chưa nhiều nhưng ổn định, do đó nông dân yên tâm đầu tư sản xuất. HTX RAT Phước Hậu, huyện Long Hồ đang sản xuất khoảng vài chục ha rau, màu các loại và sản xuất theo phương pháp "sạch". Hàng ngày, HTX này tiêu thụ RAT qua hệ thống 21 điểm, quầy rau sạch và hệ thống các siêu thị trong, ngoài tỉnh với sản lượng tiêu thụ bình quân đạt từ 2,5 đến 3 tấn/ngày. Các HTX đang mở rộng quy mô sản xuất RAT, tăng cường tập huấn biện pháp kỹ thuật cho xã viên, chủ động liên kết sản xuất, tìm thị trường, hướng tới sản xuất lượng rau màu hàng hóa lớn theo tiêu chuẩn GAP. Xác định thị trường chủ yếu RAT ở Vĩnh Long không chỉ cung cấp cho nội tỉnh mà phải vươn tầm đến các khu đô thị lớn quanh khu vực như Cần Thơ, TP. HCM, hệ thống phân phối của các siêu thị…Xa hơn, tỉnh có thể đầu tư sản xuất các loại RAT có giá trị kinh tế cao để xuất khẩu vì tiềm năng đất sản xuất rau màu của tỉnh còn khá lớn.

 

Muốn mở rộng tiêu thụ phải xây dựng thương hiệu

 

Vấn đề là đầu ra sản phẩm được tiêu thụ như thế nào. Muốn thực hiện điều đó thì các HTX sản xuất và tiêu thụ RAT phải đăng ký thương hiệu, thiết kế mẫu mã nhãn hiệu, xây dựng quy trình sơ chế đóng gói đạt tiêu chuẩn thể hiện qua hệ thống mã vạch cho từng loại sản phẩm để có thể truy nguyên nguồn gốc và tiếp cận với xu thế hội nhập. Trong cơn lốc cạnh tranh về an toàn thực phẩm và sản phẩm truy nguyên nguồn gốc của các đơn vị thu mua thì HTX nào đảm bảo thương hiệu, có quy trình sơ chế đóng gói theo mẫu bao bì nhất định, đồng thời có sản phẩm đạt số lượng lớn đáp ứng được yêu cầu của đối tác thì HTX đó đứng vững dù có biến động đầu vào, đầu ra.

 

Theo nhận định của các chuyên gia về thương mại thì xúc tiến thương mại cho vùng RAT trong thời điểm này sẽ gặp nhiều khó khăn, bởi trong xu thế hội nhập thì sản xuất RAT phải đảm bảo theo quy trình thực hành nông nghiệp tốt (GAP) và phải được cấp thẩm quyền chứng nhận và một điều khó nữa là đăng ký thương hiệu như thế nào trong khi điều kiện sản xuất và trình độ quản lý, nhân lực của ban chủ nhiệm HTX RAT còn yếu (phần lớn được chọn từ nông dân sản xuất giỏi mà ra). Ngành chức năng cần tăng cường hướng dẫn họ về xúc tiến thương mại, đăng ký thương hiệu, xây dựng quy trình sơ chế và sản xuất theo tiêu chuẩn. Cần tổ chức cho xã viên tham quan, học tập những mô hình sản xuất và tiêu thụ rau màu tiên tiến ở trong và ngoài tỉnh. Tiếp tục thực hiện chương trình RAT hàng năm nhằm hỗ trợ một phần kinh phí trong việc chuyển giao công nghệ, trang thiết bị phân tích các chỉ tiêu về môi trường, phân tích sản phẩm RAT. Đối với ban chủ nhiệm HTX, phải chủ động trong việc tìm đầu ra sản phẩm RAT, chủ động sản xuất các sản phẩm RAT có lợi thế của địa phương để phát huy thương hiệu, tranh thủ các đối tác lớn trong việc hợp tác sản xuất và tiêu thụ. Nông dân và xã viên phải tuân thủ những quy định, quy trình trong quá trình sản xuất, sơ chế và cung ứng RAT theo đặt hàng của đối tác, đảm bảo chất lượng và giữ uy tín với khách hàng. Điều quan trọng trong sản xuất và tiêu thụ, nhất thiết phải có sự cam kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong việc ký hợp đồng trên tinh thần đôi bên cùng có lợi, cùng chịu trách nhiệm trong quá trình thực hiện. 

Đất Nông


Các tin đã đưa
  Hiệu quả của việc bố trí sắp xếp dân cư gắn với phát triển nông thôn  (12/05/2011)
  Cần chung tay để kiểm soát và đảm bảo tốt chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm nông lâm thuỷ sản  (11/05/2011)
  Cần linh hoạt trong bố trí vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia cho các xã điểm  (10/05/2011)
  Quy hoạch ngành nghề nông thôn đến năm 2020 ở Vĩnh Long sẽ còn nhiều khó khăn  (07/04/2011)
  Sản xuất lúa Hè thu và Thu đông theo hướng tăng diện tích, năng suất và chất lượng  (30/03/2011)
  Sự cần thiết trong ứng dụng khoa học và công nghệ sau thu hoạch trên cây ăn quả  (28/03/2011)
  Vấn đề trọng tâm của vấn đề đảm bảo ATVSTP hiện nay là mối liên kết giữa các thành phần sản xuất  (04/03/2011)
  Cơ hội cho trái cây Việt Nam  (04/03/2011)
  Những tiến bộ trong công tác phòng chống dịch hại trên cây trồng  (02/03/2011)
  Những tác động của chính sách điều chỉnh tỷ giá USD của Nhà nước đến thị trường xuất khẩu gạo  (28/02/2011)